
Tăng sinh dịch kính võng mạc xảy ra ở khoảng 8 – 10% bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật bong võng mạc nguyên phát [1]. PVR nếu không được điều trị sớm có thể gây biến chứng: Đục thủy tinh thể, mắt mềm, hoặc teo nhãn cầu… Hiện nay, PVR được điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật để gắn lại võng mạc bị bong ra, nhưng chức năng thị giác đôi khi bị ảnh hưởng vì tình trạng bong điểm vàng lâu dài.

Tăng sinh dịch kính võng mạc (PVR) là biến chứng của bong võng mạc bởi sự co kéo dịch kính. Nếu bong võng mạc để lâu hoặc điều trị không đúng kỹ thuật, điều trị không cho kết quả thì một quá trình tăng sinh dịch kính võng mạc sẽ phát động làm cho võng mạc xuất hiện các xơ co kéo. Sự tăng sinh của tế bào xuất hiện trên khung (charpente) của dịch kính và trên hai mặt của võng mạc bong – đây là điểm đặc trưng của quá trình.
Những tế bào này đa số đến từ biểu mô sắc tố tại võng mạc. Sự co kéo thứ phát của võng mạc và dịch kính sẽ làm bệnh lý về võng mạc trở lên nghiêm trọng hơn và chúng sẽ cố định võng mạc ở một tư thế nhất định.

Mục đích của phân loại là để thống nhất cách đánh giá, chỉ định điều trị và tiên lượng. Theo đó, bệnh võng mạc tăng sinh được phân thành 4 loại [2]:
Giai đoạn A: Dấu hiệu lâm sàng xuất hiện đám mây thủy tinh và hiện tượng sắc tố trong dịch kính.
Giai đoạn B: Bề mặt bên trong võng mạc bị nhăn, cứng võng mạc, mạch máu quanh co, mép võng mạc bị cuộn tròn và không đều, khả năng di chuyển của thủy tinh thể giảm.
Giai đoạn C: Có những nếp gấp cố định trên võng mạc, tùy theo từng mức độ mà giai đoạn này chia ra:
Giai đoạn D: Nếp gấp cố định trên tất cả các phần võng mạc, khi đó võng mạc bong ra hình dạng giống cái ô, tùy mức độ mở ô mà được chia thành nhiều loại khác nhau:
Phân loại theo chữ cái A, B, C, D là phân loại của hội võng mạc thế giới (1983) được đánh khá đơn giản, khá phổ biến nhưng nhược điểm là không kể đến tăng sinh dịch kính võng mạc hình thái trước hoặc hình thái sau bộ phận võng mạc và không tính về mặt tốc độ tiến triển, cũng như giá trị tiên lượng chưa hoàn chỉnh.
Nhằm bổ sung phân loại trên, năm 1989 phân loại của nhóm nghiên cứu silicon về bệnh tăng sinh dịch kính võng mạc đầy đủ hơn. Giai đoạn đầu 1 và 2 tương ứng với giai đoạn A và B của nhóm phân loại năm 1983. Giai đoạn C và D được thay bằng giai đoạn 3 và 4. Cụ thể:
Tăng sinh phía sau, được chia thành:
Tăng sinh phía trước, được chia thành:
Nguyên nhân gây tăng sinh dịch kính võng mạc thường bao gồm: Bong võng mạc và chấn thương mắt [3].
Bong võng mạc là tình trạng võng mạc bị tách rời khỏi mô nâng đỡ dưới nằm phía sau mắt. Phẫu thuật bong võng mạc bằng các phương pháp hiện đại có tỷ lệ thành công cao. Tuy nhiên, một số trường hợp bệnh nhân phát triển các mô sẹo làm gián đoạn quá trình lành vết thương sau phẫu thuật. Chúng phát triển trong khoang thủy dịch, dẫn tới tái phát bong võng mạc.

Nguyên nhân gây tăng sinh dịch kính võng mạc cũng có thể do chấn thương mắt nghiêm trọng. Sau chấn thương biểu hiện tăng sinh dịch kính võng mạc có thể phát triển vài ngày hoặc vài tuần. Chấn thương mắt cũng là nguyên nhân gây xuất huyết dịch kính, tụ máu hắc mạc. Nếu máu tràn vào dịch kính sẽ kèm theo một phản ứng gây viêm của dịch kính. Một số nghiên cứu cho thấy, một số phản ứng viêm của cơ thể đối với chấn thương có thể ngăn cản quá trình lành vết thương, khiến võng mạc bị bong ra.
Ngoài ra, cũng có một số yếu tố rủi ro làm tăng nguy cơ mắc bệnh võng mạc tăng sinh, bao gồm: Người bị cận thị, mắc bệnh tiểu đường, bị rách võng mạc, đã từng phẫu thuật đục thủy tinh thể, chấn thương mắt do va đập mạnh, người đã và đang hút thuốc.
Các triệu chứng ban đầu khi bị tăng sinh võng mạc thường không rõ ràng, ở người trẻ tuổi hầu như không có triệu chứng gì. Nhưng ở giai đoạn giữa người bệnh sẽ có các biểu hiện:

Các phương pháp chẩn đoán bệnh tăng sinh dịch kính võng mạc thường bao gồm:
Lâm sàng: Chẩn đoán bong võng mạc ngoài việc đánh giá mức độ bong và rách võng mạc nên biết rõ nguyên nhân cũng như giai đoạn tiến triển của tình trạng bong võng mạc. Phương pháp chẩn đoán chính là khám nghiệm kỹ võng mạc, dịch kính, và lớp ngăn cách dịch kính tại võng mạc nhằm tìm ra nguyên nhân cũng như giai đoạn tiến triển của bong võng mạc.
Mục đích để quan sát xem dịch kính có các biểu hiện như: bong dịch kính sau, dính dịch kính, đục dịch kính, dày màng hyaloid, sợi màng co kéo, dị tật bẩm sinh, dị vật nội nhãn,… hay không. Với trường hợp thủy tinh thể lệch, bác sĩ sẽ tìm kiếm dấu hiệu dịch kính trong tiền phòng rách màng hyaloid.
Bác sĩ quan sát các điểm bị dính, có thể là những điểm dính bình thường cần tìm sự dày lên của màng hyaloid, sự tạo nên góc giữa dịch kính võng mạc gây bong khu trú của võng mạc. Xem xét nếp gấp của võng mạc tại chỗ dính, hoặc tại vị trí mạch máu.
Bề mặt võng mạc có thể xuất hiện vân, trơn, nhàu nát, nếp gấp. Đồng thời, có màng trước võng mạc, mức độ, giai đoạn tiến triển, khu trú hoặc lan tỏa. Bác sĩ xem xét kỹ hơn vùng hoàng điểm bởi đây là nơi hay bị biến đổi, vị trí này có dây thần kinh đệm và có thể bị dính dịch kính. Ngoài ra, bác sĩ cũng kiểm tra hệ mạch máu, xem khẩu kính, tình trạng, đường đi và quanh thành mạch.
Quan sát hình ảnh võng mạc di động hay cố định, mỏng, nhẵn, trong suốt hoặc dày. Đặc biệt, vòm ở trong bao có bị cố định bởi sự căng dịch kính hay không? Có lỗ hoàng điểm hay không? phân biệt lỗ lớp thường gây ra do co kéo ồ ạt dịch kính võng mạc.

Bác sĩ hỏi về tiền sử bệnh, bao gồm các biểu hiện, triệu chứng của bệnh tăng sinh dịch kính võng mạc. Khám sức khỏe định kỳ, cũng như kiểm tra chẩn đoán. Phương pháp chẩn đoán phân biệt sẽ rất hữu ích khi có nhiều nguyên nhân gây tăng sinh dịch kính võng mạc tiềm ẩn cần xem xét. Mục tiêu của chẩn đoán là thu hẹp chẩn đoán hoạt động và đưa ra hướng đánh giá, điều trị y tế giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh chính xác.
Điều trị nội khoa mang tính chất đề phòng nhiều hơn. Việc điều trị chống viêm kéo dài với các thuốc chống viêm steroid hoặc non-steroid giúp kiểm soát quá trình viêm, hạn chế sự tăng sinh dịch kính. Các thao tác nên thực hiện nhẹ nhàng, chuẩn xác nhằm tránh tạo điều kiện để xảy ra tình trạng bong võng mạc tiến triển sang tăng sinh dịch kính võng mạc.
Phương pháp phẫu thuật chính là cắt dịch kính và bóc tách màng tăng sinh dịch kính võng mạc. Việc bóc màng tăng sinh dịch kính phụ thuộc vào việc xác định vị trí định khu của màng.
Võng mạc là phần quan trọng của mắt, do đó sau phẫu thuật điều trị tăng sinh dịch kính võng mạc, người bệnh nên tuân thủ theo đúng chỉ định của bác sĩ. Đồng thời, người bệnh nên lưu ý một số vấn đề sau:
Phẫu thuật tăng sinh dịch kính võng mạc khá phức tạp, mặc dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp hiện đại, xong vẫn có những rủi ro, biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật:
Để đặt lịch khám bệnh với chuyên gia, bác sĩ nhãn khoa hoặc cần tư vấn các vấn đề liên quan đến bệnh tăng sinh dịch kính võng mạc hoặc các bệnh lý khác về mắt tại Trung tâm Mắt Tâm Anh, quý khách vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tăng sinh dịch kính võng mạc là bệnh lý nặng cần phát hiện và điều trị sớm để tránh các biến chứng ảnh hưởng đến thị lực. Nếu thấy các triệu chứng gây bệnh, người bệnh nên đến bệnh viện hoặc các trung tâm mắt uy tín để được bác sĩ thăm khám và đưa ra chẩn đoán chính xác nhất.