Sốc phản vệ là tình trạng phản ứng dị ứng cấp tính có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng nếu không được xử lý kịp thời. Vậy nguyên nhân gây bệnh là gì? Cơ chế sinh ra như thế nào? Cách xử trí ra sao… Tất cả những thông tin cần biết về tình trạng này sẽ có trong bài viết dưới đây.

Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng. Phản ứng này có thể xảy ra trong vài giây hoặc vài phút sau khi tiếp xúc với các chất dị ứng (dị nguyên) như thuốc, nhựa mủ, nọc độc, ong chích, kiến đốt,… hay là những thực phẩm hàng ngày không phù hợp với cơ thể mỗi người như: Cá ngừ, tôm, tép, ốc, trứng, sữa, khoai tây, đậu phộng, đậu nành,…
Tình trạng này khiến hệ thống miễn dịch giải phóng một lượng lớn chất trung gian hóa học có thể gây sốc, huyết áp giảm đột ngột, bít hẹp đường thở, gây khó thở.
Các dấu hiệu nhận biết tình trạng sốc phản vệ bao gồm: Cảm giác chóng mặt, xây xẩm đứng không vững do hạ huyết áp, tay chân lạnh, vã mồ hôi, mạch nhanh nhẹ khó bắt, phát ban trên da; buồn nôn và nôn. Người bệnh cần được cấp cứu khẩn cấp để tránh nguy cơ có thể gây tử vong. (1)

Phản ứng dị ứng được chia thành 4 loại:
Tuýp I, hoặc qua trung gian miễn dịch IgE; tuýp II và III, không phụ thuộc vào IgE miễn dịch; tuýp IV hoặc nonimmunologic. Hầu hết bệnh nhân sốc phản vệ đều có khả năng bị phản ứng loại I, nhưng không xác định được nguyên nhân.
Với phản ứng qua trung gian IgE miễn dịch, người bệnh không có dấu hiệu lâm sàng khi tiếp xúc với chất gây dị ứng ban đầu. Khi tiếp xúc lại với chất gây dị ứng đó, các kháng thể IgE được tạo ra và chất gây dị ứng tạo thành một “cầu nối” liên kết chéo các kháng thể này thông qua một thụ thể có ái lực cao, FcεRI, nằm trong màng của tế bào mast và basophil. Sau khi liên kết, các kháng thể gây ra sự hoạt hóa 2 tế bào này và tạo ra phản ứng quá mẫn ngay lập tức.
Chính sự liên kết chéo gây ra sự thay đổi màng tế bào, tạo ra dòng chảy các ion canxi vào tế bào, bắt đầu quá trình phân hủy và giải phóng các chất trung gian (như histamine). Tương tác giữa chất trung gian và cơ quan vật chủ làm xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng.
Ngược lại, các phản ứng không phụ thuộc vào IgE trong miễn dịch xảy ra thông qua quá trình sản xuất kháng thể IgG. Sự tiếp xúc với chất gây dị ứng kích hoạt liên kết kháng nguyên IgG với các thụ thể có ái lực thấp trên đại thực bào. Các phản ứng không phụ thuộc vào IgE cần tiếp xúc với kháng nguyên nhiều hơn và không gây ra tình trạng giải phóng histamin như một chất trung gian. Hơn nữa, các phản ứng không phụ thuộc vào IgE, không yêu cầu tiếp xúc với chất gây dị ứng ban đầu.
Các phản ứng không bình thường có thể xảy ra thông qua sự phân hủy tế bào mast và các tế bào ưa bazơ mà không có các globulin miễn dịch. Chúng có thể được kích hoạt bởi các tác động bên ngoài, chẳng hạn như các yếu tố vật lý, thuốc và độc tố bên ngoài. (2)
Hệ thống miễn dịch tạo ra các kháng thể chống lại các chất lạ. Phản ứng này có ích cho cơ thể khi chất lạ đó gây hại, chẳng hạn như một số vi khuẩn hoặc virus. Tuy nhiên, hệ thống miễn dịch của một số người lại phản ứng quá mức với các chất thường không gây ra phản ứng dị ứng.
Các triệu chứng dị ứng thường không đe dọa đến tính mạng, nhưng phản ứng dị ứng nghiêm trọng có thể gây ra tình trạng sốc phản vệ. Ngay cả khi ai đó xảy ra phản ứng phản vệ nhẹ trước đây, vẫn có nguy cơ bị phản vệ nặng hơn sau một lần tiếp xúc với chất gây dị ứng.
Các nguyên nhân gây phản ứng phổ biến nhất ở trẻ em là dị ứng thực phẩm, chẳng hạn như đậu phộng, hạt óc chó, tôm, động vật có vỏ, đậu nành, mè, sữa,….
Đối với người lớn, ngoài nguyên nhân từ thực phẩm giống trẻ em, những nguyên nhân khác bao gồm:
Có không ít thực phẩm có nguy cơ cao gây dị ứng, trong đó tình trạng nặng nhất là sốc phản vệ. Những loại thực phẩm đó bao gồm: hải sản, sữa, đậu nành, đậu phộng, trứng, các chất phụ gia,…
Các thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau hoặc thuốc cản quang tĩnh mạch (IV),… là các loại thuốc có nguy cơ gây sốt cao. Do đó không nên tùy tiện tự sử dụng khi chưa có chỉ định từ bác sĩ.
Ong (nhất là ong bắp cày), kiến lửa, kiến ba khoang, các loại bọ ve, chấy rận,… là những côn trùng hay cắn và gây ra phản ứng nghiêm trọng.
Nguy cơ phản ứng sau tiêm, cụ thể là sốc phản vệ thường xảy ra ở trẻ em. Nguyên nhân là do cơ địa hoặc do trẻ có các bệnh lý tiềm ẩn với các biểu hiện như mạch đập nhanh và yếu, buồn nôn, co giật, tụt huyết áp, co thắt thanh quản, mất dần ý thức,…
Trong quá trình truyền máu có thể xảy ra tình trạng phản ứng (phản ng truyền máu cấp tính hoặc phản ứng truyền máu chậm nếu xảy ra sau vài ngày/ vài tuần sau đó). Trong một số trường hợp sẽ xảy ra sốc phản vệ.
Bụi bẩn, phấn hoa, hóa chất,… là các dị nguyên khác có thể gây phản vệ.

Các triệu chứng của tình trạng này thường xảy ra trong vòng vài phút sau khi tiếp xúc với dị nguyên. Tuy nhiên, đôi khi tình trạng này có thể xảy ra sau khi tiếp xúc dị nguyên nửa giờ hoặc lâu hơn. Trong một số trường hợp hiếm hoi, tình trạng sốc phản vệ có thể xảy ra nhiều giờ sau đó. Các dấu hiệu và triệu chứng bệnh thông thường bao gồm:
Nếu cho rằng mình bị sốc phản vệ, hãy tìm kiếm sự giúp đỡ từ y tế ngay lập tức để tránh gặp phải các biểu hiện nặng nề hơn bao gồm:
Thông thường khi xảy ra phản vệ thì đã cần nhanh chóng đưa nạn nhân các cơ sở y tế, đặt biệt khi nạn nhân có bất kỳ triệu chứng như khó thở, khò khè, ho liên tục,… Ngoài việc có tiền sử phản vệ hoặc nhận thấy mình có nguy cơ cao thì cần đặc biệt chú ý trong khoảng thời gian 2 phút đến 2 giờ sau khi tiêm, truyền, ăn uống hoặc tiếp xúc với dị nguyên
Nếu cảm thấy cơ thể đang rơi vào tình trạng phản vệ nghiêm trọng, hãy lập tức gọi dịch vụ cấp cứu khẩn cấp. Trường hợp có sẵn ống tiêm tự động epinephrine (EpiPen), có thể dùng ngay khi các biểu hiện đầu tiên xuất hiện. Không nên cố gắng uống bất kỳ loại thuốc nào nếu đang trong tình trạng khó thở. Tuy nhiên, sau đó nạn nhân vẫn cần phải được chăm sóc y tế bởi có thể xảy ra tình trạng tái phát phản ứng sau khi thuốc hết tác dụng.
Trong lúc chờ cấp cứu sốc phản vệ, hãy đưa nạn nhân vào một vị trí thoải mái, nâng cao chân để máu lưu thông đến các cơ quan quan trọng; nếu nạn nhân có EpiPen, hãy sử dụng nó ngay lập tức; thực hiện hô hấp nhân tạo nếu họ ngưng thở cho đến khi cấp cứu đến.
Phản vệ thường xảy ra theo từng giai đoạn với tình trạng càng lúc càng tồi tệ hơn. Nếu nhận biết sớm phản ứng, nạn nhân sẽ có hướng xử lý cấp cứu kịp thời hơn, giảm nguy cơ dọa tính mạng.
Có 4 giai đoạn của sốc phản vệ như sau:
Lúc này, bạn có thể chưa nhận biết rằng mình đang bị phản ứng phản vệ vì các dấu hiệu còn rất nhẹ. Bạn có thể chỉ thấy ngứa, da nổi mẩn, chảy nước mũi. Nếu biết mình có nguy cơ cao bị sốc phản vệ thì ngay từ những dấu hiệu nhỏ này cũng cần đặc biệt chú ý.
Ở giai đoạn 2, các iệu hung dần tiến triển nặng hơn. Bạn có khả năng phát ban hoặc nổi mề đay trên vùng da rộng hơn; môi và lưỡi có thể bị sưng lên; tình trạng chảy nước mắt cũng xuất hiện. Khi nuốt bạn cũng gặp khó khăn hơn. Ngay lúc này cần tìm kiếm sự giúp đỡ trước khi tình hình trở nên tệ hơn.
Giai đoạn này đánh dấu với tình trạng dị ứng nghiêm trọng là lan rộng hơn, ảnh hưởng tới nhiều hệ thống cơ quan khác của cơ thể như tụt huyết áp do mạch máu giãn rộng; phế quản co thắt nhiều hơn, xảy ra hiện tượng phù mạch, đau bụng dữ dội, chuột rút, ngất xỉu. Cần điều trị ngay lúc này để ngăn ngừa tiến triển nặng hơn nữa dẫn tới suy nội tạng.
Đây là giai đoạn cuối cùng của phản vệ – giai đoạn sốc với nguy cơ cao đe dọa tính mạng cần được điều trị khẩn cấp. Lúc này hệ thống tuần hoàn của cơ thể không thể duy trì đủ lưu lượng máu và cung cấp oxy đến các cơ quan, dẫn tới rối loạn chức năng nội tạng và gây suy tạng tiềm ẩn ở tim/phổi/gan/thận. Nạn nhân có thể bị suy hô hấp, hạ huyết áp nghiêm trọng, mất ý thức. Khi các triệu chứng đạt tới mức độ nặng nhất sẽ có khả năng dẫn tới đau tim và tử vong.

Với những nguy cơ suy hô hấp, suy tạng, mất ý thức, đau tim và tử vong ở các cấp độ phản vệ thì đây hoàn toàn là một phản ứng gây nguy hiểm cho người gặp phải; không thể không điều trị khẩn cấp.
Sốc phản vệ là tình trạng y khoa vô cùng nghiêm trọng, có thể gây ra tình trạng tắc đường thở, khiến bạn không thở được. Đây cũng là yếu tố khiến tim có thể ngừng đập do huyết áp giảm khiến tim không nhận đủ oxy.
Những tình trạng này có thể góp phần vào các biến chứng tiềm ẩn như:
Trong một số trường hợp, các tình trạng y tế tiềm ẩn, vốn có trước đó sẽ trở nên tồi tệ hơn, bao gồm các vấn đề của hệ hô hấp (như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, khiến người bệnh đối diện nguy cơ thiếu oxy, nhanh chóng gây ra những tổn thương không thể phục hồi cho phổi); làm tăng nặng các triệu chứng ở người bị bệnh đa xơ cứng… Do đó, điều trị sốc phản vệ càng sớm, người bệnh càng ít gặp phải các biến chứng nguy hiểm.
Với phương pháp chẩn đoán lâm sàng, bác sĩ sẽ nhanh chóng xem xét các biểu hiện trên da, niêm mạc, tình trạng hô hấp, huyết áp,… Những biểu hiện này có thể xuất hiện độc lập hoặc phối hợp với nhau. Tuy nhiên, việc chẩn đoán cũng cần phân biệt phản ứng gây ra bởi các dị nguyên hay do thuốc mê, phẫu thuật.
Nếu thấy các dấu hiệu như tụt huyết áp kéo dài nhưng không đáp ứng với thuốc vận mạch không rõ nguyên nhân, hay khó khăn khi hít thở và kèm theo co thắt phế quản,… thì có thể chẩn đoán là phản ứng phản vệ.
Mức độ của phản ứng diễn ra từ nhẹ (biểu hiện da, niêm mạc) đến nặng (ngừng tuần hoàn). Tuy nhiên, các biểu hiện da, niêm mạc có thể không xảy ra hoặc xuất hiện sau khi giai đoạn tụt huyết áp và hồi phục tưới máu da. Cũng có trường hợp người bệnh có biểu hiện nhịp tim chậm trong khi huyết áp tụt.
Cần chẩn đoán phân biệt phản ứng phản vệ với cơn hen, tràn khí màng phổi dưới áp lực, thiếu máu cơ tim, tắc động mạch phổi, thiếu hụt men esterase C1, tiêu đại thực bào và rối loạn đại thực bào đơn dòng.
Nếu cảm thấy cơ thể đang rơi vào tình trạng phản vệ nghiêm trọng, hãy lập tức gọi dịch vụ cấp cứu khẩn cấp. Trường hợp có sẵn ống tiêm tự động epinephrine (EpiPen), có thể dùng ngay khi các biểu hiện đầu tiên xuất hiện. Không nên cố gắng uống bất kỳ loại thuốc nào nếu đang trong tình trạng khó thở. Tuy nhiên, sau đó nạn nhân vẫn cần phải được chăm sóc y tế bởi có thể xảy ra tình trạng tái phát phản ứng sau khi thuốc hết tác dụng.
Trong lúc chờ cấp cứu, hãy đưa nạn nhân vào một vị trí thoải mái, nâng cao chân để máu lưu thông đến các cơ quan quan trọng; nếu nạn nhân có EpiPen, hãy sử dụng nó ngay lập tức; thực hiện hô hấp nhân tạo nếu họ ngưng thở cho đến khi cấp cứu đến.
Trong điều trị phản vệ, cần thực hiện kỹ thuật hồi sức tim phổi khi nạn nhân ngừng thở hoặc ngưng tim. Về các thuốc chữa trị có thể là thuốc kháng histamin tiêm tĩnh mạch (IV) và cortisone để giảm viêm đường dẫn khí và cải thiện hô hấp; epinephrine (adrenaline) để giảm phản ứng dị ứng hoặc thuốc chủ vận beta để làm giảm các triệu chứng hô hấp.
Nếu từng xảy ra dị ứng nghiêm trọng hoặc đã bị sốc phản vệ trong quá khứ, bạn cần phải cố gắng ngăn ngừa các đợt tái phát trong tương lai bằng cách (4):
Tìm hiểu về nguyên nhân khiến bạn bị dị ứng và xảy ra sốc phản vệ để tránh tiếp xúc các dị nguyên gây ra phản ứng trong tương lai.
Nếu bạn đã bị sốc phản vệ và chưa được chẩn đoán bị dị ứng, bạn nên đến các cơ sở y tế có chuyên khoa Xét nghiệm để thực hiện gói xét nghiệm dị ứng nhằm xác định nguyên nhân gây ra tình trạng dị ứng cho cơ thể.
Các xét nghiệm thường được áp dụng là:
Xem xét những thực phẩm bạn đã ăn, thuốc đã uống, những dấu tích trên da khi bị côn trùng cắn,… để xác định được nguyên nhân gây ra tình trạng sốc phản vệ. Điều này sẽ giúp ích cho bác sĩ trong quá trình chẩn đoán và điều trị.
Bạn có thể giảm nguy cơ tiếp xúc với chất gây dị ứng thực phẩm bằng cách:
Bạn có thể giảm nguy cơ bị côn trùng đốt bằng cách thực hiện các biện pháp phòng ngừa cơ bản sau:
Nếu bị dị ứng với một số loại thuốc, hãy hỏi bác sĩ về những loại thuốc có thể thay thế như:
Bạn có thể được kê đơn sử dụng bút tiêm tự động adrenaline nếu có nguy cơ rơi vào tình trạng sốc phản vệ. Nếu thuộc đối tượng này, bạn cần ghi nhớ những điều sau:
Nếu con bạn có sử dụng ống tiêm tự động, chúng sẽ cần đổi sang liều lượng dành cho người lớn khi chúng đạt 30kg (khoảng 0,3mg).
Phản ứng phản vệ bắt đầu nhanh chóng sau khi ai đó tiếp xúc với chất gây dị ứng. Khi ấy cơ thể tiết ra rất nhiều hóa chất nhằm chống lại chất gây dị ứng. Những hóa chất này tạo ra một chuỗi phản ứng các triệu chứng. Những triệu chứng có thể bắt đầu trong vài giây, vài phút, hoặc lâu hơn. Những triệu chứng từ nhẹ đến nặng có thể bao gồm: Tức ngực hoặc khó chịu, khó thở, ho, buồn nôn hoặc nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, khó nuốt, đỏ da, ngứa, nói lắp, lú lẫn. Những triệu chứng ban đầu có thể nhanh chóng chuyển sang nghiêm trọng hơn nếu không được điều trị kịp thời.
Người có cơ địa dị ứng là nhóm nguy cơ hàng đầu dễ gặp phải tình trạng sốc phản vệ. Nhóm người này bao gồm người dị ứng với thực phẩm, thuốc, đồ dùng, côn trùng,… Do đó, nếu đã xác định được nguyên nhân gây dị ứng, bạn nên tránh xa những dị nguyên đó.
Phản vệ là tình trạng phản ứng cấp tính mức độ nặng của cơ thể; được xem là một phản ứng toàn thân nguy hiểm.
Nếu như tình trạng dị ứng với những biểu hiện thông thường như nổi mẩn, ngứa ngáy ngoài da,… thì phản vệ gây ra những vấn đề nghiêm trọng hơn cho sức khỏe, bao gồm cả sốc và nguy cơ tử vong. Đây cũng chính là sự khác biệt giữa phản ứng dị ứng và sốc phản vệ. Ngoài ra, sự khác biệt còn ở vị trí biểu hiện dị ứng.
Phải, phản vệ là một dạng phản ứng dị ứng; có khả năng xuất hiện trong vòng vài phút đến vài tiếng sau khi tiếp xúc với dị nguyên gây dị ứng.
Cần điều trị khi bị phản vệ để ngăn ngừa tiến triển xấu. Sau khi điều trị, cơn phản vệ có thể dần giảm bớt triệu chứng nhưng trong khoảng thời gian từ 8 đến 72 tiếng vẫn có nguy cơ xuất hiện trở lại.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Với tình trạng sốc phản vệ, mức độ nặng nhẹ phụ thuộc vào các yếu tố như tình trạng phản ứng dị ứng của mỗi người, số lượng chất dị ứng, tốc độ hấp thụ dị nguyên và thời gian chờ thực hiện điều trị cấp cứu. Do đó, để giảm nhẹ biến chứng, người bị dị ứng có dấu hiệu cần nhanh chóng được đưa đến cơ sở y tế gần nhất để thực hiện các bước cấp cứu, giảm những nguy cơ gây biến chứng nặng nề.
1. Anaphylaxis – Symptoms & causes – Mayo Clinic. (2025, April 16). Mayo Clinic. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/anaphylaxis/symptoms-causes/syc-20351468
2. Anaphylaxis. (2025, September 29). Cleveland Clinic. https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/8619-anaphylaxis