
Trong những năm gần đây, tỷ lệ trầm cảm ở trẻ em có xu hướng tăng và trẻ hóa. Bệnh thường không có dấu hiệu rõ ràng và có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đến cuộc sống sau này của trẻ.

Trầm buồn là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trong cuộc sống. Trạng thái cảm xúc này trở thành bệnh lý gọi là rối loạn trầm cảm, khi biểu hiện trầm trọng, kéo dài ít nhất hai tuần và ảnh hưởng rõ rệt đến các sinh hoạt, học tập lao động hàng ngày.
Trầm cảm ở trẻ em là hội chứng rối loạn tâm lý phổ biến, có thể khiến trẻ cảm thấy tự ti, khó hòa nhập với xã hội, rối loạn ăn uống, giấc ngủ, tự hạ thấp giá trị của bản thân. Ở mức độ nghiêm trọng, trầm cảm có thể khiến trẻ có xu hướng suy nghĩ về cái chết, tự tử. Nghiên cứu cho thấy khi bị trầm cảm, bé gái thường sẽ có xu hướng nghĩ đến tự tử nhiều hơn còn bé trai lại thường có xu hướng thực hiện hành động tự tử cao hơn. Do đó, việc phát hiện sớm tình trạng trẻ bị trầm cảm, đưa trẻ đến bệnh viện hoặc các chuyên gia tâm lý ở trẻ em để được hỗ trợ càng sớm càng tốt là cách tốt nhất giúp trẻ phát triển an toàn, khỏe mạnh và toàn diện.
Trầm cảm ở trẻ em được chia 3 nhóm thường gặp:

Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) tại Việt Nam, tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở nước ta là 8% – 29% đối với trẻ em và vị thành niên. Một khảo sát dịch tễ học được thực hiện tại 10 tỉnh thành ở nước ta (2014 do Weiss và cộng sự báo cáo), tỷ lệ vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ em vào khoảng 12%, tương đương với hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu sức khỏe tâm thần. Tuy nhiên chỉ có khoảng 20% trong số đó được nhận hỗ trợ y tế.
Theo số liệu báo cáo của một số nghiên cứu tại Việt Nam khác, tỷ lệ trẻ vị thành niên bị trầm cảm là 26,3%, trẻ có suy nghĩ về cái chết là 6,3%, trẻ lập kế hoạch tự tử là 4,6%, trẻ cố gắng tự tử là 5,8% (theo TS Đỗ Minh Loan, Bệnh viện Nhi Trung Ương)
Tuy nhiên, nhiều phụ huynh lại không hề nhận ra vấn đề nghiêm trọng này và sớm phát hiện tình trạng bất thường về tâm lý của con trẻ. Từ đó, trẻ bị trầm cảm ngày càng nghiêm trọng hơn.
Một số nghiên cứu khác đã cho thấy có khoảng 7% trẻ mắc hội chứng lo âu và khoảng 3% trẻ rơi vào tình trạng trầm cảm trong độ tuổi từ 3 – 17 tuổi. Nguy cơ trầm cảm và lo lắng có xu hướng tăng cao hơn khi trẻ lớn hơn, trong độ tuổi từ 12 – 17 tuổi. Tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 3.2 triệu thanh thiếu niên từ 12 – 17 tuổi (chiếm 13.3% dân số cùng độ tuổi tại quốc gia này) đều đã trải qua ít nhất một giai đoạn trầm cảm nghiêm trọng. Đồng thời, thanh thiếu niên mắc phải hội chứng rối loạn lo âu tại Hoa Kỳ được ước tính lên đến 31.9%. (1)
Trầm cảm ở trẻ em bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể bắt nguồn từ các yếu tố di truyền hoặc do các yếu tố môi trường. Một số nguyên nhân thường gặp khiến trẻ bị trầm cảm gồm:
Hiện nay, nhiều gia đình thường xuyên so sánh, tạo áp lực cho con trẻ về thành tích học tập. Điều này khiến trẻ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, về lâu có thể gây trầm cảm.

Bạo lực học đường là một trong những nguyên nhân thường gặp gây nên tình trạng trầm cảm ở trẻ. Phần lớn nạn nhân của bạo lực học đường thường sẽ có xu hướng che giấu, sợ hãi, chịu đựng và sống khép kín, từ đó dẫn đến trầm cảm.
Hạnh phúc gia đình là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến tâm lý và sự trưởng thành của trẻ. Trẻ sinh ra trong một gia đình hạnh phúc thường sẽ có tâm lý thoải mái và yên bình. Ngược lại, trẻ sinh ra trong một gia đình thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, thiếu sự yêu thương, bị la mắng, chê trách sẽ có xu hướng bị trầm cảm cao.
Việc can thiệp quá sâu và đời sống riêng tư, sở thích cá nhân của trẻ khiến trẻ bị gò bó, không thoải mái và thường xuyên phải làm những điều mình không muốn. Từ đó, trẻ hình thành cảm giác khó chịu, không được tôn trọng, trở nên dễ nóng giận, có xu hướng phản kháng. Điều này vô tình tạo nên rào cản tâm lý giữa trẻ và bố mẹ, trẻ ít tâm sự với bố mẹ hơn, dễ đi lạc hướng và trầm cảm.
Trẻ có thể gặp khó khăn khi thích nghi với những thay đổi từ môi trường sống. Điều này có thể gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội như bạn bè, quá trình học tập, từ đó, khiến trẻ dễ rơi vào tình trạng trầm cảm.
Một số vấn đề chấn động về tâm lý như người thân mất, bị lạm dụng tình dục, kết quả học tập sa sút, bố mẹ ly hôn, bạo lực gia đình… khiến trẻ gặp phải các cú sốc tâm lý nghiêm trọng. Từ đó, trẻ có xu hướng khép mình lại với các mối quan hệ với xã hội, khó chia sẻ với người khác, tăng nguy cơ bị trầm cảm.
Trầm cảm do yếu tố di truyền thường xảy ra ở trẻ trong giai đoạn từ 1 – 6 tuổi. Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ đã chỉ ra khoảng 40% trẻ trầm cảm có liên quan đến ADN; trẻ sinh ra trong gia đình có người thân bị trầm cảm sẽ có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn gấp 3 lần so với những đứa trẻ sinh ra trong gia đình bình thường.

Trẻ bị trầm cảm có thể có nhiều biểu hiện khác nhau, do đó, bệnh rất dễ bị nhầm lẫn với những thay đổi về cảm xúc, thể chất bình thường của trẻ. Dấu hiệu điển hình nhất của trầm cảm là cảm giác buồn bã, vô vọng, khép mình với xã hội. Một số dấu hiệu khác của bệnh gồm:
Có. Trầm cảm được xếp vào một trong những bệnh lý về tâm lý đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em. Bệnh khiến trẻ có những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực về lâu dài khiến trẻ cảm thấy bị tách biệt với xã hội, khép kín bản thân, tiêu cực hơn và tự tử. Một nghiên cứu với sự tham gia của 202 trẻ em tại việt Nam về bệnh trầm cảm ở trẻ em đã cho thấy, có khoảng 22.8% trẻ bị trầm cảm và có đến 23.7% trẻ có xu hướng muốn tự tử.
Một số ảnh hưởng từ trầm cảm đến sự phát triển của trẻ em gồm:
Bệnh trầm cảm thường được chẩn đoán dựa vào các triệu chứng kéo dài trong 2 tuần hoặc lâu hơn. Thực tế, không có xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán trầm cảm ở trẻ. Tuy nhiên, để loại trừ các bệnh lý gây ra triệu chứng tương tự như trầm cảm, bác sĩ có thể (yêu cầu trẻ thực hiện một số thủ thuật y khoa) cần kiểm tra y tế kỹ lưỡng, tiền căn bệnh tật, xem xét triệu chứng, hành vi và các hoạt động chức năng của trẻ, những tác động từ gia đình và trường học, môi trường xã hội xung quanh trẻ, tiền sử tâm thần sức khoẻ gia đình. Các bệnh lý có thể gồm: Thiếu máu, động kinh, các rối loạn chức năng gan, thận, chấn thương, suy giáp, cường giáp, bạch cầu đơn nhân hay thiếu hụt vitamin D.
Sau khi có kết quả thăm khám, bác sĩ nhi khoa có thể kết hợp với các chuyên gia tâm lý nhằm chẩn đoán tình trạng sức khỏe của trẻ phù hợp. Bác sĩ có thể cần sự phối hợp với gia đình và nhà trường nhằm làm rõ sự thay đổi về tâm trạng và hành vi của trẻ.
Trong giai đoạn tuổi dậy thì, trẻ phải đối mặt với những thay đổi về cả bên trong và bên ngoài cơ thể. Đặc biệt, sự phát triển về ngoại hình có thể khiến trẻ trở nên nhạy cảm, dễ tự ti khi bị trêu chọc, khó hòa nhập với bạn bè đồng trang lứa. Hơn nữa, ở độ tuổi này, tâm lý của trẻ thường trở nên e ngại, khó chia sẻ những vấn đề mình gặp phải với bạn bè, người thân. Khi không được giáo dục đúng cách, trẻ có thể hình thành nên những suy nghĩ lệch lạc, dễ rơi vào trầm cảm. Do đó, phụ huynh cần đặc biệt chú ý khi trẻ bước vào giai đoạn dậy thì.
Trẻ bị trầm cảm cần được hỗ trợ và điều trị tích cực từ các chuyên gia tâm lý và người thân càng sớm càng tốt. Các phương pháp điều trị trầm cảm ở trẻ em tương tự như ở người trưởng thành, bao gồm liệu pháp tâm lý và thuốc uống. Tuy nhiên, khác với người trưởng thành, trẻ bị trầm cảm rất dễ bị tác động từ gia đình và môi trường sống bên ngoài. Vì vậy, bố mẹ cần hiểu rõ về sự quan trọng này, từ đó, quan tâm, chăm sóc trẻ đúng cách, tạo môi trường sống thoải mái, phù hợp. Thông thường, trẻ sẽ được điều trị tâm lý trước, sau đó, có thể cân nhắc sử dụng thuốc hỗ trợ khi bệnh không có dấu hiệu cải thiện.
Liệu pháp tâm lý được sử dụng trong điều trị trầm cảm ở trẻ được gọi là liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT). Đây là một hình thức điều trị giúp trẻ suy nghĩ tích hơn, từ đó kiểm soát hành vi của mình theo hướng tích cực, giúp trẻ kiểm soát sự lo lắng, nỗi sợ và loại bỏ cội nguồn của sự sợ hãi của trẻ.
Thuốc trị trầm cảm ở trẻ em được sử dụng phổ biến nhất là thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI). Thuốc có tác dụng làm tăng nồng độ serotonin trong não – một chất hóa học giúp gia tăng cảm giác hạnh phúc. Lưu ý, thuốc được bác sĩ tính toán kỹ lưỡng, phù hợp với tình trạng sức khỏe, độ tuổi và cân nặng của trẻ. Bố mẹ không nên tự ý cho trẻ dùng thuốc hoặc dùng sai liều bác sĩ chỉ định bởi thuốc thuốc có thể khiến trẻ rơi vào tình trạng rối loạn lưỡng cực (bệnh phấn khích – trầm cảm).
Phần lớn các nguyên nhân dẫn đến trầm cảm ở trẻ xuất phát từ cuộc sống hàng ngày. Do đó, bố mẹ có thể giúp trẻ giảm nguy cơ bị trầm cảm thông qua các biện pháp dưới đây:

Việc phát hiện và điều trị trầm cảm sớm cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh vẫn chưa thực sự hiểu rõ về trầm cảm ở trẻ em là gì, cha mẹ không nhận biết được, nhầm lẫn thay đổi tâm sinh lý ở lứa tuổi vị thành niên hoặc thậm chí có xu hướng phủ nhận tình trạng trầm cảm ở trẻ do các định hướng xã hội như “bệnh thần kinh”, “bệnh tâm thần”. Một số câu hỏi thường gặp về bệnh trầm cảm ở trẻ gồm:
Trầm cảm ở trẻ em tuy là một bệnh lý nghiêm trọng và có thể gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm nhưng bệnh thường có thể điều trị được. Do đó, khi trẻ có dấu hiệu trầm cảm, bố mẹ cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ và các chuyên gia tâm lý để được hỗ trợ càng sớm càng tốt.
Phần lớn trẻ bị trầm cảm sẽ được chăm sóc và điều trị tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ và các chuyên gia tâm lý. Tuy nhiên, bố mẹ cần chú ý quan sát các biểu hiện nhằm ngăn ngừa kịp thời nguy cơ tự tử ở trẻ (nếu có):
Nếu trẻ có các biểu hiện trên, tốt nhất, bố mẹ nên đưa trẻ đến bệnh viện để được bác sĩ thăm khám và hỗ trợ điều trị tích cực.
Để biết thêm thông tin về cách chăm sóc trẻ và những vấn đề về sức khỏe khác của trẻ, bạn có thể liên hệ khoa Nhi, bệnh viện đa khoa Tâm Anh theo địa chỉ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, trầm cảm ở trẻ em là một bệnh lý nguy hiểm có thể xảy ra ở mọi đối tượng và gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Do đó, bố mẹ cần chú ý quan tâm và nuôi dạy trẻ đúng cách nhằm đảm bảo trẻ phát triển một cách toàn diện, an toàn.
Professional, C. C. M. (n.d.). Depression in children. Cleveland Clinic. https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/14938-depression-in-children