Bà Tứ, 64 tuổi, siêu âm định kỳ phát hiện nốt nhỏ ở gan trái, bác sĩ chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan, được phẫu thuật nội soi cắt thùy trái gan, triệt căn ung thư.

Bà Tứ (ngụ Đắk Lắk) được chẩn đoán viêm gan siêu vi B mạn tính cách đây 10 năm, bác sĩ chỉ định uống thuốc kháng virus hàng ngày và tái khám định kỳ mỗi ba tháng, nhưng do thấy sức khỏe bình thường nên nhiều khi cả năm bà mới đi khám 1 lần. Lần siêu âm gần đây ở một bệnh viện gần nhà, bác sĩ phát hiện tổn thương ở gan trái, không có triệu chứng bất thường, kết quả xét nghiệm chất chỉ điểm ung thư bình thường.
Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, kết quả cộng hưởng từ (MRI) cho thấy nhu mô gan không đồng nhất, bờ gan hơi gồ ghề. Khối tổn thương kích thước gần 3 cm tại hạ phân thùy II, gây chèn ép các cấu trúc mạch máu lân cận, tăng bắt thuốc ở thì động mạch và thải thuốc ở các thì sau, nghi ung thư gan giai đoạn sớm.
“Việc uống thuốc kháng virus viêm gan B ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình nhân lên của virus viêm gan B (HBV) là rất cần thiết, giảm thiểu nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Tuy nhiên, dù uống thuốc đều đặn nhưng cũng cần thăm khám sức khỏe định kỳ vì thuốc không thể tiêu diệt hoàn toàn virus HBV ra khỏi cơ thể, mầm mống gây bệnh vẫn còn, và tổn thương gan mạn tính vẫn có khả năng tiếp diễn âm thầm”, BS.CKII Huỳnh Văn Trung, Trung tâm Viêm gan và Gan nhiễm mỡ, cho biết.
Tiến sĩ bác sĩ Phạm Công Khánh, Trưởng khoa Gan – Mật – Tụy, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, cho biết với khối u còn khu trú, chức năng gan còn tốt, phẫu thuật nội soi cắt gan loại bỏ phần gan chứa u, triệt căn tế bào ung thư, giữ lại tối đa phần gan khỏe mạnh là giải pháp tối ưu cho người bệnh.
Trường hợp này nếu phát hiện muộn, khối u lớn có thể tự vỡ gây xuất huyết ồ ạt, hoặc có thể xâm lấn và tạo thành huyết khối ở tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch gan, gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa và các biến chứng nặng như xuất huyết tiêu hóa. Nếu khối u phát triển gần các ống mật chính có thể chèn ép hoặc xâm lấn gây tắc nghẽn, dẫn đến vàng da tắc mật nghiêm trọng và nhiễm trùng đường mật hoặc di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể.

Sau khi đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát và thực hiện đầy đủ các xét nghiệm chức năng gan, bà Tứ được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt thùy trái gan chứa khối u. “Ca phẫu thuật khá phức tạp, lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ biến chứng trong và sau phẫu thuật. Chỉ cần một sơ suất nhỏ có thể gây chảy máu ồ ạt, rò mật hoặc suy gan nếu phần gan còn lại không đảm bảo chức năng”, theo bác sĩ Khánh.
Để đảm bảo an toàn, trước khi tiến hành phẫu thuật, bác sĩ xem xét kỹ đặc điểm khối u như vị trí, kích thước, mức độ xâm lấn, cấu trúc mạch máu và đường mật lân cận. Từ đó, xây dựng “chiến lược phẫu thuật” chi tiết, bao gồm phân thùy gan cần cắt bỏ, các mạch máu phải kiểm soát và những dụng cụ hỗ trợ chuyên biệt như dao cắt siêu âm, stapler..
Quá trình phẫu thuật, bác sĩ nhận thấy gan bị xơ hóa, tiến hành kiểm soát chọn lọc cuống gan trái để tránh tối đa tổn thương nhu mô gan. Dùng dao siêu âm cắt thận trọng từng lớp nhu mô gan, bảo tồn tối đa nhu mô gan lành, phẫu tích và kẹp các nhánh mạch máu đi vào thùy trái gan. Cuối cùng, tĩnh mạch gan trái được cắt bằng stapler. Khi thùy trái gan cùng với khối u đã được cắt trọn, bề mặt diện cắt khô ráo, sạch sẽ, chứng tỏ quá trình cắt thùy trái gan nội soi diễn ra an toàn, giảm thiểu tối đa nguy cơ chảy máu, rò mật, đảm bảo chức năng gan sau phẫu thuật. Hậu phẫu, sau 1 ngày, sức khỏe bà Tứ hồi phục nhanh, đi lại và ăn uống bình thường, được xuất viện sau 3 ngày.

Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy diện cắt cắt âm tính (không còn tế bào ung thư), u chưa xâm nhập thần kinh. Người bệnh tiếp tục điều trị với thuốc kháng virus để hạn chế tái phát và ngăn ngừa gan xơ hóa thêm. Tái khám định kỳ để theo dõi và phát hiện sớm tổn thương u gan mới trên nền gan xơ. “Sau khi cắt bỏ thùy trái gan (hạ phân thùy gan II và III), phần gan còn lại sẽ to ra, bù đắp phần gan đã mất và duy trì chức năng gan”, bác sĩ Khánh cho biết.
Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma – HCC) là dạng ung thư gan phổ biến nhất, chiếm khoảng 85% đến 90% tổng số ca ung thư gan nguyên phát. Đây là một loại ung thư có khả năng phát triển nhanh, thường tiến triển âm thầm trong giai đoạn đầu, người bệnh không nhận biết được cho đến khi bệnh trở nặng.
Nguyên nhân hàng đầu và phổ biến gây ra ung thư biểu mô tế bào gan là sự tổn thương và viêm gan mạn tính kéo dài, dẫn đến xơ gan, ung thư gan.Trong đó, virus viêm gan B (HBV) được xem nguyên nhân phổ biến nhất (chiếm 80%), bệnh thường diễn ra âm thầm không có triệu chứng rõ rệt, quá trình này kéo dài từ 15 – 30 năm.
Tùy theo vị trí, kích thước, số lượng khối u, chức năng gan, cũng như tình trạng sức khỏe toàn thân của người bệnh mà bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp như đốt sóng cao tần (RFA), phẫu thuật cắt gan, ghép gan, nút mạch và hóa trị giảm nhẹ. Trong đó, phẫu thuật cắt gan vẫn là giải pháp triệt để và hiệu quả nhất, giúp loại bỏ hoàn toàn tổn thương ung thư. Ở những khối u đơn độc, kích thước dưới 3 cm, tỷ lệ sống thêm 5 năm sau phẫu thuật có thể đạt 70 – 90%. Đặc biệt với phương pháp phẫu thuật nội soi mang lại hiệu quả vượt trội so với mổ hở truyền thống: vết mổ nhỏ, ít mất máu, người bệnh ít đau, nhanh phục hồi và sớm trở lại sinh hoạt bình thường.
(*) Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH