Sau 4 lần sinh thiết khối u lớn của phổi khó xác định bản chất tổn thương – nhưng chưa loại trừ được dạng ác tính, người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt một thùy phổi để khẳng định mô bệnh học khối u, từ đó mới đủ cơ sở kết luận là tổn thương dạng lành tính hiếm gặp.

3 tháng trước, bà Mơ (66 tuổi, Nghệ An) được phát hiện khối u ở thùy trên phổi trái kích thước lớn khoảng 6cm tại bệnh viện địa phương, được sinh thiết bằng chọc kim qua thành ngực hai lần đều cho kết quả không xác định được bản chất u.
Kiểm tra lại tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, các bác sĩ tiến hành sinh thiết lại để xác định bản chất tổn thương. Lần sinh thiết đầu tiên cho thấy mô bệnh học và hóa mô miễn dịch gợi ý u tuyến phế quản, kèm thành phần vảy và thâm nhiễm viêm mạn tính – chưa đủ tiêu chuẩn kết luận ung thư. Lần sinh thiết thứ hai, hình thái mô học ban đầu nghi ngờ ung thư biểu mô kém biệt hóa nên người bệnh được chỉ định bổ sung bộ dấu ấn hóa mô miễn dịch chuyên sâu. Kết quả cuối cùng xác định tổn thương phù hợp với u biểu mô tuyến phế quản type gần (bronchial adenoma, proximal type), thuộc nhóm nguy cơ ác tính thấp.
Theo ThS.BS Đỗ Trung Dũng, khoa Phẫu thuật Tim, Mạch máu và Lồng ngực, vì khối u lớn và tăng kích thước theo thời gian nhưng bản chất bệnh lý chưa thể khẳng định hoàn toàn qua sinh thiết xuyên thành ngực, để tránh nguy cơ bỏ sót tổn thương ác tính, hội đồng ung bướu đường hô hấp của bệnh viện đã chỉ định phẫu thuật cắt thùy phổi. Phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong nhóm u này, vừa để có tổ chức đủ lớn cho sinh thiết xác định bản chất khối u, vừa giúp loại bỏ hoàn toàn tổn thương, giảm nguy cơ tái phát và cho phép tiên lượng rõ ràng hơn sau khi có kết quả mô bệnh học toàn bộ khối u.
Ê kíp tiến hành phẫu thuật cắt thùy trên phổi trái cho bà Mơ bằng kỹ thuật nội soi lồng ngực ít xâm lấn. Qua các đường rạch nhỏ, bác sĩ dùng camera và dụng cụ chuyên biệt bóc tách cuống mạch, cuống phế quản của thùy phổi có u và lấy trọn khối tổn thương ra khỏi cơ thể. Phương pháp nội soi giúp hạn chế đau, giảm mất máu và rút ngắn thời gian hồi phục cho người bệnh.
Mẫu mô trọn vẹn sau phẫu thuật được gửi làm giải phẫu bệnh, kết quả xác định đây là u xơ cơ viêm, thuộc nhóm tổn thương lành tính. Các hạch rốn phổi và trong nhu mô phổi chỉ ghi nhận tình trạng viêm mạn tính, không phát hiện tế bào ác tính.

Theo Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ (Pubmed), u xơ cơ viêm hay tổn thương giả u tăng sinh nhiều nguyên bào xơ cơ viêm (Inflammatory myofibroblastic tumor – IMT) là một loại u trung mô hiếm gặp, thường xuất hiện ở lứa tuổi thiếu niên và thanh thiếu niên. Ở người lớn như trường hợp bà Mơ là bệnh hiếm, chiếm dưới 1% các khối u phổi.
Theo bác sĩ Dũng, kết quả sau mổ đã làm rõ hoàn toàn bản chất khối tổn thương lành tính. Các mẫu sinh thiết xuyên thành ngực trước đó chỉ cho thấy hình ảnh mô học không điển hình xen lẫn viêm mạn tính, khiến việc phân biệt giữa tổn thương ác tính và u lành còn nhiều nghi ngờ. Thực tế,·những mẫu nhỏ qua sinh thiết đôi khi không phản ánh đầy đủ cấu trúc toàn khối u, đặc biệt với các tổn thương có thành phần viêm – xơ hóa phức tạp.
Trong y văn tình huống này được gọi là “biopsy–surgery discrepancy” thể hiện kết quả sinh thiết trước mổ nghi ngờ ác tính nhưng mô bệnh học sau phẫu thuật lại xác định tổn thương lành tính. Hiện tượng này có thể xảy ra khi khối u có sự không đồng nhất về mô học, kim sinh thiết vô tình lấy trúng vùng có tế bào bất thường trong khi phần lớn khối tổn thương là mô viêm hoặc mô lành. Một số khối u cũng có thể hoại tử hoặc thay đổi do viêm theo thời gian, dẫn đến sự khác biệt giữa các mẫu được lấy ở những thời điểm khác nhau. Ngoài ra, với các tổn thương nhỏ hoặc cấu trúc phức tạp, việc lấy mẫu khó khăn có thể khiến sinh thiết và phẫu thuật thu được hai vùng mô khác nhau.
Sau phẫu thuật, bà Mơ hồi phục nhanh, tình trạng cải thiện, vết mổ khô. Người bệnh được điều trị kháng sinh, giảm đau, tập hít thở phục hồi phổi và được xuất viện sau 1 tuần.
Với phẫu thuật triệt căn, khối u của bà Mơ đã được loại bỏ hoàn toàn nên nguy cơ tái phát rất thấp, song người bệnh vẫn cần theo dõi định kỳ do loại u xơ cơ viêm có đặc tính sinh học không ổn định. Trong năm đầu, bà Mơ nên tái khám mỗi 3 – 6 tháng, sang năm thứ hai thời gian là 6 – 12 tháng, sau đó duy trì kiểm tra hàng năm nếu ổn định. Việc tái khám giúp phát hiện sớm nguy cơ tái phát và theo dõi sức khỏe phần phổi còn lại.
*Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH